TIN CHI TIẾT
Hành trình tiến tới Kho bạc điện tử

Năm 2010 đánh dấu quá trình 20 năm xây dựng và phát triển của hệ thống Kho bạc Nhà nước (KBNN), cũng là năm có thay đổi sâu rộng trong hoạt động nghiệp vụ của ngành Kho bạc khi các dự án hiện đại hoá công nghệ quản lý, hoạt động nghiệp vụ được tiếp tục đẩy nhanh tiến độ, đặc biệt là 2 dự án Hiện đại hoá thu ngân sách và Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc (TABMIS), để tiến tới mục tiêu trở thành Kho bạc điện tử vào năm 2020.

Cuộc trò chuyện đầu năm của Tạp chí Tài chính điện tử với ông Nguyễn Đại Trí - Phó Tổng Giám đốc KBNN sẽ phác hoạ rõ nét hơn sự chuẩn bị tích cực của ngành KB.

PV: Hiện đại hoá thu ngân sách là Dự án trọng điểm trong hoạt động cải cách thủ tục hành chính của ngành Kho Bạc, ông có thể nói vắn tắt để độc giả dễ hình dung hơn về Dự án này?

Ông Nguyễn Đại Trí: Dự án hiện đại hoá công tác thu nộp giữa cơ quan Tài chính - Kho bạc - Hải quan và Thuế có một vai trò rất quan trọng trong hoạt động cải cách thủ tục hành chính. Dự án này được nghiên cứu, vận hành thí điểm khá lâu, nhưng do nhiều nguyên nhân nên vừa rồi mới triển khai rộng.

Dự án đã tạo ra quy trình thu nộp ngân sách dựa trên nền tảng ứng dụng CNTT, đem lại lợi ích tối đa cho các đối tượng có nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước, điển hình là giảm thời gian thu nộp thuế của doanh nghiệp, đồng thời giúp KB thực hiện đúng trách nhiệm thu nhanh - thu đúng – thu đủ - thu chính xác và động viên kịp thời các nguồn thu của ngân sách Nhà nước (NSNN).

Đến nay chúng tôi đã triển khai dự án Hiện đại hoá thu ngân sách giữa Thuế - Kho bạc - Hải quan – Tài chính, kết nối với hệ thống ngân hàng tại trên 30 tỉnh, thành phố. Qua đó liên kết thông tin về đối tượng phải thu, số liệu thực thu giữa KBNN, cơ quan thu, cơ quan tài chính và hệ thống ngân hàng thương mại, tạo ra dữ liệu thu ngân sách Nhà nước tập trung, thống nhất, tạo điều kiện phát triển các phương thức thu thuế hiện đại (qua ATM, thẻ tín dụng…), đơn giản hoá thủ tục, đồng thời góp phần vào việc tăng cường công tác thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế theo chủ trương của Chính phủ.

Dự án này gắn kết chặt chẽ với hệ thống TABMIS, giúp cho việc xử lý nhập liệu vào TABMIS đơn giản hơn rất nhiều, đồng thời, cơ quan KB cũng tạo được cơ sở dữ liệu thống nhất về hoạt động thu ngân sách để cung cấp cho các cơ quan quản lý Thuế và Hải quan.

Ngoài ra, khi triển khai Dự án Hiện đại hoá công tác thu nộp thì KBNN cũng đã từng bước thực hiện việc uỷ nhiệm thu qua ngân hàng. Hiện đã triển khai ở một số tỉnh với sự phối hợp của Ngân hàng Công Thương Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Việt Nam.

Cần lưu ý rằng khi chính thức vận hành Luật Quản lý thuế mới thì số lượng đối tượng có trách nhiệm nộp thuế tăng hơn trước rất nhiều (trước kia chỉ dừng ở các doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh, còn bây giờ có thêm cả các cá nhân, do đó, tổng số đối tượng nộp thuế có thể lên tới con số vài ba chục triệu), nếu không đổi mới quy trình quản lý, đưa công nghệ vào hoạt động tác nghiệp thì KBNN không có cách nào đảm bảo được khả năng phục vụ công tác thu nộp thuế của mình.

PV: Ông mới nói tới sự thay đổi có lợi cho ngành Kho bạc, vậy sẽ có lợi gì cho người nộp thuế sau khi Dự án được vận hành?

Ông Nguyễn Đại Trí: Trước đây, khi chưa vận hành Dự án thì một người nộp thuế muốn thực hiện nghĩa vụ của mình phải đến cơ quan thuế làm các thủ tục về kê khai, sau đó, cơ quan thuế sẽ cung cấp giấy nộp tiền vào ngân sách Nhà nước, tiếp đó, người nộp thuế phải đến cơ quan kho bạc để làm thủ tục nộp tiền. Nghĩa là mất khá nhiều thời gian, công sức, và thậm chí cả tiền bạc..

Với dự án này thì đã có sự phối hợp rất chặt chẽ giữa cơ quan Thuế với cơ quan Kho bạc. Ngành thuế đã cung cấp cho chúng tôi toàn bộ hồ sơ, sổ thuế của người nộp thuế, vì thế, lúc này, người nộp thuế không phải đến cơ quan thuế nữa, chỉ cần đến KBNN, làm một vài động tác rất đơn giản như khai báo mã số đối tượng nộp thuế, số tiền phải nộp, là KB có thể sử dụng ứng dụng truy cập vào cơ sở dữ liệu lấy được toàn bộ thông tin cần thiết và in được giấy nộp tiền. Hình dung một cách dễ hiểu thì trước đây, người nộp thuế phải đi qua 2 “cửa”, còn bây giờ chỉ phải đến 1 “cửa”.

Sắp tới, khi có thêm sự phối hợp của ngân hàng thì người nộp thuế chỉ cần đến ngân hàng để nộp thuế, ngân hàng sẽ đứng ra thay kho bạc để làm công tác thu, giảm thiểu tình trạng phải chen chân chờ đợi tại một số ít điểm thu như trước. Định kỳ hàng ngày, hàng giờ, các ngân hàng sẽ cung cấp số liệu về người nộp thuế để kho bạc ghi thu kịp thời vào ngân sách Nhà nước.

PV: Qua thực tế triển khai thu thuế qua ngân hàng, Dự án đã nhận được sự phản hồi thế nào?

Ông Nguyễn Đại Trí: Dự án này đã được sự ủng hộ, hoan nghênh rất lớn của các đối tượng nộp thuế. Ở những nơi đã triển khai, người nộp thuế cảm thấy thuận lợi hơn rất nhiều, tiết kiệm được nhiều thời gian, công sức khi thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước.

Cùng với việc triển khai dự án này, trong ngành Tài chính đã hình thành cơ sở dữ liệu thống nhất về toàn bộ dữ liệu thu ngân sách, tránh tình trạng các cơ quan như Thuế, Kho bạc có sự không khớp nhau về số liệu. Và cũng với việc triển khai này, tin chắc khối lượng công việc của ngành Thuế, Kho bạc sẽ giảm đi, qua đó, tiết kiệm rất nhiều chi phí vận hành của các cơ quan Thuế, Kho bạc.

PV: Theo như ông nói, Ngân hàng sẽ thay Kho bạc để làm công tác thu nộp thuế, vậy Ngân hàng có “làm thay” Kho bạc vấn đề bảo mật thông tin cho người dân, doanh nghiệp hay không?

Ông Nguyễn Đại Trí: Chúng tôi rất quan tâm tới vấn đề này bởi chúng tôi hiểu thông tin là một thứ tài sản cần phải giữ gìn, bảo mật. Vì thế, KBNN đã chủ động từng bước áp dụng các giải pháp bảo mật vào hoạt động của mình.

Ngay từ năm 2006, KBNN là đơn vị đầu tiên trong ngành Tài chính triển khai chữ ký số cho công tác thanh toán nội bộ KBNN và giải pháp này sẽ tiếp tục được áp dụng nhằm đảm bảo toàn bộ thông tin trao đổi giữa kho bạc với hệ thống ngân hàng được bảo mật, xác thực. Các số thu do ngân hàng thu truyền sang KB sẽ được chuyển giao dưới dạng điện tử, áp dụng các giải pháp chữ ký số xác thực điện tử để giải quyết vấn đề về tính pháp lý của dữ liệu, giải quyết vấn đề chống từ chối, chống giả mạo dữ liệu.

PV: Việc triển khai thu ngân sách qua ngân hàng đòi hỏi KBNN phải có những chiến lược phối hợp cụ thể gì?

Ông Nguyễn Đại Trí: Triển khai thu nộp thuế qua ngân hàng là một yêu cầu, áp lực không làm không được. Vì vậy, thời gian tới, KBNN chắc chắn sẽ phải tiếp tục mở rộng hình thức này. Mở rộng triển khai thu nộp qua ngân hàng đến đâu thì sẽ mở rộng uỷ nhiệm thu qua ngân hàng đến đó.

Tuy nhiên, sẽ có một số vấn đề phải xem xét, nghiên cứu, trình cấp có thẩm quyền giải quyết, ví dụ như quy chế mở tài khoản KBNN tại các ngân hàng. Hiện nay, theo quy định, việc mở tài khoản KBNN chỉ cho phép tại Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại quốc doanh (như Ngân hàng Công Thương Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Việt Nam), nhưng nay, trong bối cảnh kinh tế phát triển, ở Việt Nam đã có thêm khá nhiều ngân hàng cổ phần hoạt động hiệu quả nên các đối tượng cá nhân có thể mở tài khoản tại bất cứ ngân hàng nào. Chính vì vậy, rất cần có phương án phù hợp và “thoáng” hơn đối việc việc mở tài khoản KBNN tại các ngân hàng trong thời gian tới.

Mặt khác, khi triển khai thu ngân sách qua ngân hàng, rõ ràng khối lượng công việc của KBNN cũng sẽ có sự thay đổi theo hướng giảm đi, lao động KBNN sẽ bị dôi ra, cần phải điều chỉnh. KBNN đang chuẩn bị lộ trình sắp xếp lại cán bộ, đào tạo để sử dụng cán bộ một cách hiệu quả nhất khi đưa công nghệ vào hoạt động nghiệp vụ.

PV: Nhiều ý kiến cho rằng việc triển khai dự án Hiện đại hoá thu ngân sách tại các đơn vị KBNN chính là tiền đề để triển khai dự án TABMIS. Quan điểm của ông thế nào?

Ông Nguyễn Đại Trí: Nói rằng dự án này bổ trợ cho TABMIS cũng đúng, hoặc nói rằng dự án này tạo tiền đề cho thành công của TABMIS cũng đúng, bởi 2 dự án có sự liên quan chặt chẽ với nhau.

PV: Vậy TABMIS đã tiến triển đến đâu, thưa ông?

Ông Nguyễn Đại Trí: Dự án TABMIS là một trong 3 cấu phần, nhưng là cấu phần quan trọng nhất, lớn nhất của Dự án cải cách tài chính công, bắt đầu được triển khai thực hiện từ năm 2006 với đối tác là Công ty IBM Singapore.

Qua 3 năm, KBNN được Bộ Tài chính giao chủ trì phối hợp với các đơn vị liên quan triển khai thực hiện rất nhiều công việc, từ phân tích thiết kế quy trình nghiệp vụ, xây dựng các cơ chế chính sách để triển khai các hệ thống trang thiết bị CNTT. Đến tháng 4/2009, mọi điều kiện cần thiết đã sẵn sàng, chúng tôi đã triển khai thí điểm tại Hải Phòng, sau đó tại Hà Nam, và các cơ quan Trung ương gồm KBNN Trung ương cùng các đơn vị thuộc Bộ Tài chính. Thời gian triển khai thí điểm kéo khá dài bởi đây là dự án khá phức tạp, phạm vi triển khai rộng tới tất cả các cơ quan tài chính và kho bạc tại những địa bàn nói trên.

Đến tháng 8/2009, công tác thí điểm cơ bản hoàn thành. Sau một thời gian tiếp tục hoàn chỉnh, KBNN đã triển khai diện rộng qua 2 đợt, trong đó, đợt 1 vào tháng 10/2009 ở 3 tỉnh Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, và đợt 2 vào tháng 11/2009 tại Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà.

Khối lượng công việc rất lớn, đặc biệt, vào cuối năm, các đơn vị kho bạc, tài chính thường phải “gồng mình” vận hành công việc thường xuyên, chẳng hạn các cơ quan tài chính phải lo xây dựng dự toán để kịp phê duyệt; còn cơ quan KB bắt đầu đến giai đoạn căng thẳng của giải ngân quyết toán. Một điều không may là khi bắt đầu triển khai ở 3 tỉnh miền Trung thì có lũ lớn nhất trong dăm bảy chục năm nay. Nhưng với sự cố gắng tối đa của cán bộ công chức ngành tài chính, kho bạc Trung ương, địa phương nên việc triển khai vẫn đúng kế hoạch, lộ trình.

Việc triển khai diện rộng hệ thống TABMIS là sự nỗ lực phấn đấu vượt bậc của toàn thể cán bộ, công chức hệ thống KBNN, đặc biệt là các đơn vị, cá nhân trực tiếp tham gia thực hiện dự án. Tới thời điểm này, TABMIS đã được vận hành tại 8 tỉnh và các cơ quan Trung ương. Chúng tôi khá yên tâm với những kết quả đã đạt được bước đầu trong năm 2009 của Dự án.

PV: Ông cho rằng những khó khăn lớn nhất đối với thời kỳ đầu vận hành TABMIS là gì?

Ông Nguyễn Đại Trí: Trước hết phải nói đến khó khăn về con người - nguồn nhân lực. Trình độ giữa cán bộ nghiệp vụ cấp Trung ương với cấp tỉnh và với cấp huyện có sự chênh lệch khá lớn; Nhiều cán bộ vẫn chưa quen với việc ứng dụng tin học trong các hoạt động nghiệp vụ. Đó là khó khăn căn bản cần giải quyết. Để chuẩn bị tốt cho công tác triển khai TABMIS, chúng tôi cũng đã tổ chức nhiều hoạt động đào tạo, từ đào tạo về tin học căn bản đến đào tạo về quy trình nghiệp vụ, cơ chế chính sách mới, rồi sử dụng chương trình, quản lý vận hành chương trình.

Tiếp đến là khó khăn về cơ sở vật chất, hạ tầng. TABMIS là một hệ thống vận hành theo mô hình tập trung, đòi hỏi hạ tầng truyền thông rất lớn và ổn định cao về băng thông đường truyền từ cấp tỉnh đến cấp huyện. Rất may là nhìn trước được yêu cầu của dự án thì ngành Tài chính đã triển khai được hạ tầng truyền thông thống nhất trong toàn ngành.

Tuy nhiên, với phạm vi triển khai rất rộng - trên 700 quận, huyện trên toàn quốc - thì sự đáp ứng hạ tầng ở một số điểm chưa thực sự tốt. Nguyên nhân là do trong chừng mực nào đó, ngành Tài chính cũng không chủ động được vì cũng phải thuê dịch vụ của các nhà cung cấp và các nhà cung cấp đôi khi chưa hoàn toàn đáp ứng được mong mỏi của chúng tôi. Đây là khó khăn tiềm ẩn không chỉ ở giai đoạn triển khai thí điểm mà cả ở giai đoạn triển khai chính thức sắp tới.

PV: Hiện đã có hướng tháo gỡ hoặc giảm thiểu khó khăn, vướng mắc đó chưa, thưa ông?

Ông Nguyễn Đại Trí: Chúng tôi đã xác định trước tiên là phải làm tốt công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức, đặc biệt là đào tạo cán bộ, từ những người trực tiếp vận hành đến những cán bộ quản lý, lãnh đạo các cấp. Bên cạnh câu chuyện đào tạo, cũng phải tạo sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan kho bạc với cơ quan tài chính ở từng địa bàn và tiếp tục có giải pháp nâng cấp hạ tầng.

Cần nhấn mạnh rằng để Dự án TABMIS thành công, đòi hỏi không chỉ sự nỗi lực của các đơn vị ngành Tài chính, mà còn cần sự hỗ trợ dịch vụ tốt nhất từ phía các nhà cung cấp dịch vụ, nhất là phải đảm bảo hệ thống luôn sẵn sàng, mà nếu không may có sự cố thì phải khắc phục một cách nhanh nhất.

PV: Xin cảm ơn ông!

Năm 2010, KBNN sẽ tập trung triển khai những công việc:

- Kịp thời ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết Chế độ kế toán Nhà nước áp dụng cho hệ thống TABMIS; xây dựng các quy chế nội bộ phục vụ cho việc vận hành hệ thống TABMIS được an toàn, thông suốt khi triển khai.

- Tiếp tục thực hiện tốt Chế độ kế toán NSNN, hoạt động nghiệp vụ KBNN, và Chương trình KTKB 2008 tại các tỉnh chưa triển khai TABMIS.

- Chuẩn bị kỹ các điều kiện cần thiết và tập trung mọi nguồn lực, triển khai quyết liệt để vận hành hệ thống TABMIS được thông suốt. Từng đơn vị KBNN cần nghiên cứu kỹ ảnh hưởng tác động của TABMIS đối với việc phân công, bố trí đội ngũ cán bộ làm công tác kế toán để điều chỉnh, sắp xếp cho phù hợp với các luồng công việc vận hành TABMIS; nghiên cứu nắm bắt chế độ kế toán áp dụng cho TABMIS và sự vận hành của hệ thống TABMIS để có sự chuẩn bị rà soát số liệu, dữ liệu phục vụ chuyển đổi hệ thống…

- Khẩn trương hoàn thành việc nâng cấp chương trình thanh toán điện tử và triển khai dự án Hiện đại hoá thu ngân sách giai đoạn II để giao diện với hệ thống TABMIS.

- Tập trung nghiên cứu và triển khai thí điểm theo lộ trình các đề án thanh toán liên ngân hàng, thanh toán song phương điện tử.

- Thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo đột xuất, định kỳ về tình hình thu chi và quyết toán NSNN theo quy định. Hoàn thiện và khai thác có hiệu quả hệ thống mẫu biểu báo cáo áp dụng cho TABMIS; Tổ chức tốt công tác tổng hợp báo cáo chung trong toàn hệ thống, đảm bảo kết xuất được đầy đủ, chính xác, kịp thời các thông tin, báo cáo phục vụ yêu cầu quản lý của cơ quan tài chính và KBNN. 

(Nguồn: eFinance Online)

 

CÁC TIN KHÁC :
  NĐ 51: Thêm nhiều việc cho doanh nghiệp
  Lo hóa đơn giả khi doanh nghiệp tự in
  Thay đổi thời điểm nhập dữ liệu TABMIS đợt 5/2010
  Dừng áp dụng song song hai chương trình KTKB và TABMIS
  Quy trình nhập dự toán ngân sách địa phương vào hệ thống TABMIS
  Hành trình tiến tới Kho bạc điện tử
DỊCH VỤ
Cho thuê máy văn phòng
Quý khách không muốn đầu tư một khoản tiền khá lớn vào việc trang bị thiết bị văn phòng hoặc Quý khách luôn luôn mong muốn mình được sử dụng các công ... xem chi tiết
Camera quan sát
Trong tiến trình phát triển của các doanh nghiệp, các khu chung cư đô thị, với cuộc sống hiện đại tiện nghi, trở thành ngôi nhà thông minh như hiện nay. Việc ... xem chi tiết
Bảo trì máy
 Thiết bị văn phòng là những thiết bị điện tử chuyên dụng được sản xuất dựa trên qui trình công nghệ hiện đại, phức tạp và đòi hỏi có độ ... xem chi tiết
Mạng máy tính
  Thiết kế hệ thống mạng: Các kỹ sư của chúng tôi được trang bị kỹ năng thiết kế, cài đặt, hỗ trợ cho mạng máy tính, chúng tôi không lấy phí tư ... xem chi tiết
DANH MỤC SẢN PHẨM
XEM GIÁ SẢN PHẨM

THÔNG TIN SỰ KIỆN
NĐ 51: Thêm nhiều việc cho doanh nghiệp
Lo hóa đơn giả khi doanh nghiệp tự in
Lễ trao nhà Đại đoàn kết cho gia đình nghèo, neo đơn ở phường 9 – TP.Mỹ Tho - Tiền Giang
Thay đổi thời điểm nhập dữ liệu TABMIS đợt 5/2010
Dừng áp dụng song song hai chương trình KTKB và TABMIS
Hỗ trợ trực tuyến